Kiểu tóc này thân thiện hơn với các chàng trai trẻ. Đầu ngọn lửa Đặc điểm dễ nhận thấy nhất của đầu ngọn lửa là phần tóc trên đỉnh hơi hếch lên và có hình ngọn lửa, nhìn từ xa trông nó tràn đầy năng lượng như ngọn lửa đang cháy. Nếu kiểu tóc này được điểm thêm màu tóc đỏ thì sẽ nhiều lớp hơn. Cũng hoàn hảo hơn. Tóc ngắn rẽ ngôi lệch Thể hiện ca khúc Nước Ngoài của Phan Mạnh Quỳnh, Phượng Hoàng Lửa xuất sắc giành chiến thắng áp đảo với tỷ số bình chọn 45,92%. Điều này đồng nghĩa với việc Hươu Thần và Chàng Lúa phải bước vào vòng hát đối đầu xem ai là người được đi tiếp vào vòng trong. Kết quả, nhận tỉ số bình chọn thấp hơn với 40%, Chàng Lúa buộc phải cởi mặt nạ lộ diện. Thời điểm các đơn vị đăng tải KHLCNT lên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia công bố chậm so với quy định: Có các KHLCNT đã được phê duyệt từ ngày 28/11/2018 trở về trước, nhưng đến ngày 13/12/2018 mới được đăng tải, cụ thể là: KHLCNT của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên cho dự toán "Mua sắm tài Tóm tắt tác phẩm Thánh Gióng - Mẫu 8. Đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nọ. Tuy làm ăn chăm chỉ, lại có tiếng là phúc đức nhưng mãi không có con. Một hôm, bà vợ ra đồng ướm chân vào một vết chân lạ, về nhà bà thụ thai. Bà mang thai mười hai tháng GIỐNG LÚA GIA LỘC 37 NGẮN NGÀY, CHẤT LƯỢNG 20/06/2019 viện cây lương thực và cây thực phẩm Vụ Xuân năm 2019, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm tiếp tục phối hợp với Công ty Cổ phần giống cây trồng Trung ương khảo nghiệm sản xuất giống lúa Gia Lộc 37 tại các tỉnh phía Bắc như Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Hà Tĩnh….. . Vụ lúa đông xuân lập kỳ tích giữa hạn mặn, nông dân lãi 30-40%Trong bối cảnh hạn hán, xâm nhập mặn thậm chí còn khốc liệt hơn năm 2015 - 2016, nhưng vụ đông xuân 2019 - 2020 vẫn đạt được nhiều kỷ lục Năng suất, sản lượng tăng dù diện tích xuống giống giảm, lúa được giá, giúp nông dân có lợi nhuận...Sự thật không ngờ về cái tên X1X1 là tên giống lúa ngắn ngày đầu tiên ra đời tại miền Bắc trong thời kỳ chiến đó, những nhà khoa học của ta cần gửi giống lúa đi Viện lúa quốc tế, mà không có tên gì, bè... Gene HD9 rút ngắn thời gian sinh trưởng ở cây lúa trong điều kiện địa lý, thổ nhưỡng và khí hậu đặc thù của Việt Nam mới đây đã được lập bản đồ và các vật liệu mang gene này hoàn toàn có thể ứng dụng để rút ngắn thời gian sinh trưởng của bộ giống lúa của nước ta. Ngày 23/5/2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt đề án “Tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” với mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh lúa gạo, làm cơ sở đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, tạo thêm việc làm, và tăng thu nhập cho người nông dân. Một yêu cầu quan trọng của đề án là phải hình thành được các giống lúa có thời gian sinh trưởng TGST ngắn hơn với năng suất và chất lượng tương dụng các giống có TGST ngắn trước hết sẽ tăng hiệu quả sử dụng diện tích đất nông nghiệp. Thời gian cho một vụ ngắn lại đồng nghĩa với giảm công chăm sóc, chi phí phân bón, giảm nguy cơ bị sâu bệnh hại, trong khi thời gian nghỉ của đất tăng, tạo thuận lợi cho luân canh tăng vụ. Ngoài ra, giống lúa có TGST ngắn còn giúp xây dựng cơ cấu mùa vụ linh hoạt, tránh được rét hại cho mạ trong vụ Xuân ở miền Bắc, hay tránh được hạn và mặn đang xảy ra thường xuyên ở miền Trung Tây Nguyên và Nam gian sinh trưởng giảm 9-14 ngày, năng suất không đổiVậy làm sao để lai chọn được các giống lúa có TGST ngắn một cách bền vững và hiệu quả nhất? Câu trả lời nằm ở việc Cần tìm ra và tích hợp vào các giống hiện hành các gene tăng tốc độ sinh trưởng cây lúa. Theo một tổng kết về lịch sử phát triển cây lúa Việt Nam trong 80 năm qua, TGST của các giống lúa đã liên tục được cải tiến rút ngắn, từ 240-245 ngày trong giai đoạn 1945-1957 đến hiện nay còn 125-135 ngày trong vụ Xuân và 90-110 ngày trong vụ một cách dễ hiểu, cây lúa là loài ra hoa phụ thuộc vào quang chu kỳ, thời gian chiếu sáng trong ngày càng ngắn thì cây lúa ra hoa càng sớm. Cho đến nay, các gene tham gia điều khiển ra hoa ở cây lúa được xác định trên thế giới đều phụ thuộc vào quang chu kỳ. Trong khi ở Việt Nam, các giống lúa hiện nay đã không còn mẫn cảm với quang chu kỳ nữa sau quá trình chọn lọc và phát triển. Vì vậy, muốn sử dụng gene điều khiển TGST trong cải tiến các giống lúa thì cần phải tiến hành các nghiên cứu từ đầu trên các giống lúa và trong điều kiện sinh thái đặc trưng của nước lúa cực ngắn ngày mới DCG72 SRYT3 được mùa tại Nghệ An, tháng 8/2017. Ảnh do tác giả bài viết cung cấpLà một trong những nhóm tiên phong trong lĩnh vực này, nhóm nghiên cứu tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã thành công trong việc xác định và lập bản đồ gene HD9 rút ngắn TGST ở cây lúa trong điều kiện địa lý, thổ nhưỡng và khí hậu đặc thù của Việt thể, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu lập bản đồ với mục tiêu là xác định QTL/ gene điều khiển thời gian trỗ sớm ở các giống lúa indica ở điều kiện khí hậu miền Bắc Việt Nam. Quần thể BC2F2 gồm 93 cây từ phép lai giữa giống Khang Dân 18 KD18 và TSC3 được đánh giá phân ly về thời gian trỗ trong vụ Mùa 2014. Kết quả, chúng tôi đã chỉ ra gene HD9 di truyền theo quy luật Mendel và là gene trội, có chức năng rút ngắn kết quả thu được, chúng tôi thử sử dụng gene HD9 trong lai cải tiến rút ngắn TGST của giống lúa KD18. Từ năm 2012 đến 2015, nhóm nghiên cứu đã tiến hành lai tạo và cải tiến giống KD18 bằng phương pháp MABC Marker-Assisted Back-Crossing. Kết quả đã chọn tạo thành công được 4 dòng lúa cải tiến mới mang gene HD9. TGST được rút ngắn 9-14 ngày so với giống KD18 ban đầu, đồng thời, vẫn duy trì các đặc điểm cũng như năng suấtcủa giống nghi với các loại thổ nhưỡng và khí hậu khác nhauXa hơn, chúng tôi mang áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học thu được vào nhiều vùng có các đặc điểm thổ nhưỡng và khí hậu khác nhau. Thực tế cho thấy giống lúa cải tiến mang gene HD9 không mẫn cảm với quang chu kỳ và thích nghi tốt với các điều kiện sinh thái khác nhau trên cả nghiệm được tiến hành trong vụ Mùa 2015 tại 3 địa điểm đặc trưng cho vùng sinh thái, là vùng núi phía Bắc tại Lào Cai vĩ Bắc, đồng bằng sông Hồng tại Hà Nội vĩ Bắc và đồng bằng sông Cửu Long tại Sóc Trăng vĩ Bắc.Kết quả, sau khi đánh giá các đặc điểm sinh trưởng và năng suất của 4 dòng cải tiến, chúng tôi nhận thấy chúng đều tương đương với giống gốc KD18, trong khi TGST được rút ngắn 12-14 ngày. Chúng tôi đã áp dụng kết quả này vào vụ mùa thực tế tại Nghệ An xem ảnh.Điều lý thú là, sự ổn định về TGST cũng như chức năng của gene HD9 được chứng tỏ bằng sự thích nghi rất tốt của dòng cải tiến mới với các điều kiện sinh thái khác nhau của Việt Nam. Đây là kết quả công bố đầu tiên về dòng/giống ngắn ngày có phổ thích ứng rộng có thể canh tác ở cả 2 miền Bắc và Nam, có ý nghĩa quan trọng đối với giống lúa đảm bảo an ninh lương thực cho nước ta trong bối cảnh biến đổi khí hậu phức ra, các vật liệu mang gene HD9 và phương pháp chọn tạo giống mới cần thời gian ngắn hơn các phương pháp cũ nhờ sử dụng công cụ chỉ thị DNA genome-wide selection hoàn toàn có thể ứng dụng để rút ngắn TGST của bộ giống lúa hiện nay của Việt liệu tham khảoNguyễn Quốc Trung, Phạm Văn Cường 2015. Xác định gene quy định thời gian trỗ sớm ở cây lúa bằng phương pháp phân tích các điểm tính trạng số lượng QTL. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn số 21 Van Cuong, Nguyen Van Hoan 2014. Progress of Rice genotype improvement and production in Vietnam. Japanese Journal Of Crop Science, Vol. 83 Extra issue 1Pham Van Cuong, Nguyen Thanh Tung, Nguyen Quoc Trung, Nguyen Van Hoan 2015 Breeding new variety by improving Khangdan18 cultivar with shorter growth duration and medium amylose content. Journal of Agriculture and rural development, Special edition on crop and animal science, 37 - 43Masahiro Yano, Shoko Kojima, Yuji Takahashi, Hongxuan Lin, Takuji Sasaki 2001. Genetic Control of Flowering Time in Rice, a Short-Day Plant. Plant Physiology, December, Vol. 127, pp. 1425–1429 Vụ ĐX 2012 - 2013 Viện KHKT Nông nghiệp duyên hải Nam Trung bộ giới thiệu 3 giống lúa mới ngắn ngày đã được nghiên cứu chọn tạo, đánh giá năng suất... Vụ ĐX 2012 - 2013 Viện KHKT Nông nghiệp duyên hải Nam Trung bộ giới thiệu 3 giống lúa mới ngắn ngày đã được nghiên cứu chọn tạo, đánh giá năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh, khả năng thích nghi trong điều kiện SX các tỉnh Nam Trung bộ. Giống lúa AN14 có TGST ngắn, năng suất khá cao 1- Giống lúa AN26-1 được chọn lọc từ tổ hợp lai Thơm đen/ML203/OM4498. Thời gian sinh trưởng 92 - 95 ngày. Chiều cao cây 97 cm, chiều dài bông 24 cm, tổng số hạt/bông 180 - 250 hạt. Hạt thon dài, gạo trong, tỷ lệ bạc bụng dưới 7%, cơm mềm khi để nguội, amylose 22,9%, kháng rầy nâu cấp 3 - 5, bệnh đạo ôn cấp 1 và bệnh bạc lá cấp 3. Năng suất 65 - 75 tạ/ha. Ưu thế của giống lúa AN26-1 bông nhiều hạt nhưng ít lép. Yêu cầu trong canh tác, bón phân cân đối và thu hoạch đúng độ chín. 2- Giống lúa AN14 được chọn lọc từ tổ hợp Khuong loong /ML203/OMCS98. Thời gian sinh trưởng 94 - 97 ngày. Vụ ĐX ngắn ngày hơn AN26-1 từ 3 - 4 ngày nhưng vụ hè thu dài ngày hơn từ 3 - 5 ngày. Chiều cao cây 97 cm, chiều dài bông 24 cm. Tổng số hạt/bông 144 hạt, tỷ lệ lép15%. Gạo của AN14 khá đẹp, hạt trong và bạc bụng dưới 5%, amylose thấp 22,2%. Kháng rầy nâu cấp 5, đạo ôn cấp 3 và bệnh bạc lá cấp 5. Năng suất của giống AN14 đạt 65 - 70 tạ/ha. Ưu thế của giống lúa AN14 thân to và cứng cây nên khả năng chống đổ ngã khá tốt. Điểm đáng lưu ý với giống lúa AN14, thời gian sinh trưởng vụ ĐX rút ngắn nhưng sang vụ HT kéo dài hơn so với các giống lúa ngắn ngày khác. 3- Giống lúa AN20-6 được chọn lọc từ tổ hợp lai OM6916/ĐV108. Thời gian sinh trưởng 85 ngày thuộc nhóm cực ngắn, chiều cao cây 100 cm, hạt/bông khá cao 185 - 240 hạt, nhưng tỷ lệ lép rất thấp, dưới 7%. Hạt gạo trong, dài, không bạc bụng đặc biệt amylose của AN20-6 rất thấp chỉ 14,8%. Kháng rầy nâu cấp 3, đạo ôn cấp 1 và bệnh bạc lá cấp 3. Năng suất có thể đạt 60 - 70 tạ/ha. Đặc điểm nổi bật về dạng hình AN20-6 lá đồng có hình lòng máng và duy trì được màu xanh đến khi hạt vào chắc hoàn toàn. Thân đứng, hơi cao nhưng gốc rạ to. Ít đẻ nhánh nhưng tỷ lệ bông hữu hiệu cao. Kỹ thuật canh tác cho các giống lúa ngắn ngày hoàn toàn khác với giống lúa trung ngày ≥ 120 ngày ở Nam Trung bộ như ĐV108, ĐB6, KD18, Q5… Công thức phân bón có thể thay đổi tùy theo chân đất 80-60-60 kg NPK/ha hay 100-80-60 kg NPK/ha. Bón phân cho các giống lúa ngắn ngày, hạt dài phải tuân theo nguyên tắc nặng đầu, nhẹ cuối đặc biệt nhứt phân sớm. Thí nghiệm tiến hành đánh giá thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và đa dạng di truyền của 23 mẫu giống lúa ngắn ngày và một giống dài ngày VN10 trong vụ xuân 2013 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian từ gieo đến trỗ các giống ngắn ngày là 74 đến 107 ngày và 157 ngày ở giống đối chứng. Trong đó thời gian xuất hiện lá thứ nhất đến làm đòng của các giống lúa ngắn ngày có biên độ biến động cao nhất là 25 ngày. Xây dựng cây đa dạng sử dụng 50 chỉ thị SSR nằm trên cả 12 nhiễm sắc thể có thể chia vật liệu ngắn ngày thành 5 nhóm với hệ số di truyền 0,78. Từ khóa Cây lúa, chỉ thị SSR, đa dạng di truyền, ngắn ngày. ABSTRACT This study aimed to evaluate the duration at different growth stages and genetic diversity of twenty early maturing rice EMRV varieties and one late maturing rice variety LMRV VN10 as check variety in 2013 spring season, Vietnam national University of Agriculture. The results showed that the days from sowing to heading in EMRV was in a range of 74 to 107 days and 157 days in LMRV. The period from first leaf and second leaf apperance and booting were diverse in which the most diverse stage was from second leaf to booting stage with 25 days difference. Phylogenetic tree was constructed with 50 SSR markers spread over 12 chromosomes and the EMRVs were divided in 5 groups at Polymorphic information content PIC = Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free J. Sci. & Devel. 2014, Vol. 12, No. 4 461-467 Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 4 461 ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN MỘT SỐ GIỐNG LÚA NGẮN NGÀY Nguyễn Quốc Trung1*, Lê Văn Trung1 , Nguyễn Thị Trang1, Nguyễn Thị Thùy Dương2 Nguyễn Thanh Tùng2, Nguyễn Văn Hoan2, Phạm Văn Cường2,3 1Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; 2Dự án DCGV, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; 3Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Email* nqtrung Ngày gửi bài Ngày chấp nhận TÓM TẮT Thí nghiệm tiến hành đánh giá thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và đa dạng di truyền của 23 mẫu giống lúa ngắn ngày và một giống dài ngày VN10 trong vụ xuân 2013 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian từ gieo đến trỗ các giống ngắn ngày là 74 đến 107 ngày và 157 ngày ở giống đối chứng. Trong đó thời gian xuất hiện lá thứ nhất đến làm đòng của các giống lúa ngắn ngày có biên độ biến động cao nhất là 25 ngày. Xây dựng cây đa dạng sử dụng 50 chỉ thị SSR nằm trên cả 12 nhiễm sắc thể có thể chia vật liệu ngắn ngày thành 5 nhóm với hệ số di truyền 0,78. Từ khóa Cây lúa, chỉ thị SSR, đa dạng di truyền, ngắn ngày. Evaluation of Genetic Diversity of Early Maturing Rice Varieties ABSTRACT This study aimed to evaluate the duration at different growth stages and genetic diversity of twenty early maturing rice EMRV varieties and one late maturing rice variety LMRV VN10 as check variety in 2013 spring season, Vietnam national University of Agriculture. The results showed that the days from sowing to heading in EMRV was in a range of 74 to 107 days and 157 days in LMRV. The period from first leaf and second leaf apperance and booting were diverse in which the most diverse stage was from second leaf to booting stage with 25 days difference. Phylogenetic tree was constructed with 50 SSR markers spread over 12 chromosomes and the EMRVs were divided in 5 groups at Polymorphic information content PIC = Keywords Early maturing rice varieties, genetic diversity, rice, SSR marker. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Nhu cầu nâng cao giá trị sản xuất lúa gạo đồng thời tăng hiệu quả sử dụng diện tích đất nông nghiệp đòi hỏi cần thiết phải rút ngắn thời vụ đất trồng lúa. Tại đồng bằng sông Hồng, sử dụng các giống ngắn ngày sẽ giúp người nông dân đỡ vất vả hơn trong vụ Xuân, tránh được rét cho mạ và thuận lợi hơn trong canh tác vụ Đông. Tại đồng bằng sông Cửu Long, canh tác các giống lúa ngắn ngày sẽ giúp tăng lên 3-4 vụ/năm hoặc tăng thời gian nghỉ giữa 2 vụ, tránh được bùng phát dịch hại như rầy nâu, vàng lùn xoắn lá. Trong công tác chọn tạo giống lúa ngắn ngày, việc thu thập và đánh giá nguồn gen là rất quan trọng. Hiện nay ở Việt Nam, nguồn gen ngắn ngày khá đa dạng gồm các giống bản địa và nhập nội từ nhiều nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Philipin IRRI… có cả nhóm japonica và indica. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu đánh giá, phân tích thời gian các giai đoạn và thời kỳ sinh trưởng để đánh giá vai trò các giai đoạn/thời kỳ tới tổng thời gian từ gieo đến thu hoạch để có các định hướng sử dụng trong lai tạo, cải tiến các giống lúa theo hướng ngắn ngày hơn. Đánh giá đa dạng di truyền một số giống lúa ngắn ngày 462 Ngoài ra, việc đánh giá đa dạng di truyền các mẫu giống ngắn ngày để phục vụ cho công tác chọn tạo giống là rất cần thiết. Nguồn gen đa dạng là cơ sở rất quan trọng để sử dụng các gen, alen phong phú trong các phép lai khác nhau, đồng thời, đa dạng di truyền còn là cơ sở để tạo nên ưu thế lai. Việc đánh giá đa dạng di truyền có thể được thực hiện dựa trên các đặc điểm hình thái, nông sinh học và ở mức độ phân tử ADN. Với các thành tựu về giải trình tự genome lúa, các bộ chỉ thị SSR phục vụ đánh giá đa dang di truyền được phát triển rất mạnh và có tính ứng dụng cao. Năm 2002, McCough đã công bố danh sách trên chỉ thị SSR mới phát hiện. Cho đến nay, theo thống kê có trên chỉ thị SSR trên cây lúa Monaco, 2013. Chính vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là thu thập và đánh giá thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng một số mẫu giống lúa ngắn ngày, đồng thời xác định đa dạng di truyền các giống này bằng chỉ thị SSR, qua đó nâng cao việc bảo tồn và khai thác hiệu quả nguồn gen quí này để cải tiến các giống lúa theo hướng ngắn ngày hơn. 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP Vật liệu 23 mẫu giống ngắn ngày và 1 mẫu giống dài ngày thu thập từ nhiều nguồn được gieo cấy trong vụ Xuân 2013 tại cánh đồng dự án JICA-DCGV, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Bảng 1. Phương pháp nghiên cứu Bố trí thí nghiệm Hạt nảy mầm được gieo trên khay đất có tạo các luống cách nhau 2cm để trong nhà kính, khoảng cách giữa các hạt là 1cm. Cây mạ 25 ngày tuổi được cấy ra ruộng theo phương pháp tuần tự không nhắc lại, mỗi ô 5m2, mật độ 33 khóm/1m2. Phương pháp theo dõi thời gian sinh trưởng theo tiêu chuẩn của IRRI, 2002 Thời điểm xuất hiện lá thứ nhất và thứ hai được ghi nhận vào cùng thời điểm 16h00 hàng ngày. Lá được coi là xuất hiện nếu hình thành đầy đủ các bộ phận phiến lá, cuống lá và bẹ lá. Thời điểm phân hóa đòng được theo dõi ở giai đoạn bước thứ 4 khi bông lúa phân hóa nhị đực và nhụy, bông lúa non dài 1-1,5cm. Thời điểm trỗ là thời điểm có 10% số cây trong giống trỗ thoát khoảng 5cm khỏi bẹ lá. Kết quả được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel. Đánh giá đa dạng di truyền bằng chỉ thị SSR Tách chiết ADN mẫu lá được lấy 30 ngày sau khi cấy và được làm đông khô bằng chân không trước khi tiến hành tách chiết theo phương pháp CTAB của Doyle 1987. Bảng 1. Danh sách 23 giống ngắn ngày và 1 giống dài ngày Ký hiệu Tên giống Nguồn gốc Ký hiệu Tên giống Nguồn gốc S1 KD18 Trung Quốc S15 IR58 IRRI S2 VN10 Việt Nam S16 MTL163 Việt Nam S3 IR24 IRRI S17 HYMST Nhật Bản S4 Asominori Nhật Bản S18 P6 ĐB Việt Nam S5 AD11 Việt Nam S19 Kim23B Trung Quốc S6 OM5524 Việt Nam S20 Hoa sữa Mỹ S7 IRRI108 IRRI S21 OM1121 Việt Nam S8 IR50 IRRI S22 OM5930 Việt Nam S9 IRRI142 IRRI S23 OM6162 Việt Nam S11 Agaminmi Nhật Bản S24 OM6932 Việt Nam S12 Norin PL9 Nhật Bản S27 RufIL19 Nhật Bản S13 RufIL3 Nhật Bản S28 OM5964 Việt Nam Nguyễn Quốc Trung, Lê Văn Trung, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Thùy Dương, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hoan, Phạm Văn Cường 463 Bảng 2. Danh sách các chỉ thị khảo sát trên 12 nhiễm sắc thể McCouch, 2002 TT Chỉ thị SSR NST Trình tự Điều kiện PCR Mồi xuôi Mồi ngược Nhiệt độ gắn mồi Số chu kỳ 1 RM495 1 aatccaaggtgcagagatgg caacgatgacgaacacaacc 55 30 2 RM1 1 gcgaaaacacaatgcaaaaa gcgttggttggacctgac 55 30 3 RM283 1 gtctacatgtacccttgttggg cggcatgagagtctgtgatg 61 30 4 RM259 1 tggagtttgagaggaggg cttgttgcatggtgccatgt 55 30 5 RM312 1 gtatgcatatttgataagag aagtcaccgagtttaccttc 55 30 6 RM5 1 tgcaacttctagctgctcga gcatccgatcttgatggg 57 30 7 RM237 1 caaatcccgactgctgtcc tgggaagagagcactacagc 55 30 8 RM431 1 tcctgcgaactgaagagttg agagcaaaaccctggttcac 55 30 9 RM154 2 accctctccgcctcgcctcctc ctcctcctcctgcgaccgctcc 61 30 10 RM452 2 ctgatcgagagcgttaaggg gggatcaaaccacgtttctg 61 30 11 RM489 3 acttgagacgatcggacacc tcacccatggatgttgtcag 55 30 12 OSR13 3 catttgtgcgtcacggagta agccacagcgcccatctctc 53 40 13 RM338 3 cacaggagcaggagaagagc ggcaaaccgatcactcagtc 55 40 14 RM55 3 ccgtcgccgtagtagagaag tcccggttattttaaggcg 55 30 15 RM514 3 agattgatctcccattcccc cacgagcatattactagtgg 55 30 16 RM307 4 gtactaccgacctaccgttcac ctgctatgcatgaactgctc 55 30 17 RM124 4 atcgtctgcgttgcggctgctg catggatcaccgagctcccccc 67 30 18 RM507 5 cttaagctccagccgaaatg ctcaccctcatcatcgcc 55 30 19 RM413 5 ggcgattcttggatgaagag tccccaccaatcttgtcttc 53 30 20 RM161 5 tgcagatgagaagcggcgcctc tgtgtcatcagacggcgctccg 61 30 21 RM178 5 tcgcgtgaaagataagcggcgc gatcaccgttccctccgcctgc 69 30 22 RM334 5 gttcagtgttcagtgccacc gactttgatctttggtggacg 55 30 23 RM133 6 ttggattgttttgctggctcgc ggaacacggggtcggaagcgac 63 30 24 RM510 6 aaccggattagtttctcgcc tgaggacgacgagcagattc 57 30 25 RM454 6 ctcaagcttagctgctgctg gtgatcagtgcaccatagcg 55 30 26 RM162 6 gccagcaaaaccagggatccgg caaggtcttgtgcggcttgcgg 61 30 27 RM125 7 atcagcagccatggcagcgacc aggggatcatgtgccgaaggcc 63 30 28 RM11 7 tctcctcttcccccgatc atagcgggcgaggcttag 55 30 29 RM455 7 aacaacccaccacctgtctc agaaggaaaagggctcgatc 57 30 30 RM118 7 ccaatcggagccaccggagagc cacatcctccagcgacgccgag 67 30 31 RM408 8 caacgagctaacttccgtcc actgctacttgggtagctgacc 55 30 32 RM152 8 gaaaccaccacacctcaccg ccgtagaccttcttgaagtag 53 40 33 RM25 8 ggaaagaatgatcttttcatgg ctaccatcaaaaccaatgttc 53 40 34 RM44 8 acgggcaatccgaacaacc tcgggaaaacctaccctacc 53 30 35 RM284 8 atctctgatactccatccatcc cctgtacgttgatccgaagc 55 30 36 RM433 8 tgcgctgaactaaacacagc agacaaacctggccattcac 53 40 37 RM447 8 cccttgtgctgtctcctctc acgggcttcttctccttctc 55 30 38 RM316 9 ctagttgggcatacgatggc acgcttatatgttacgtcaac 55 30 39 RM105 9 gtcgtcgacccatcggagccac tggtcgaggtggggatcgggtc 63 30 40 RM215 9 caaaatggagcagcaagagc tgagcacctccttctctgtag 55 30 41 RM474 10 aagatgtacgggtggcattc tatgagctggtgagcaatgg 55 30 42 RM271 10 tcagatctacaattccatcc tcggtgagacctagagagcc 55 30 43 RM171 10 aacgcgaggacacgtacttac acgagatacgtacgcctttg 55 40 44 RM484 10 tctccctcctcaccattgtc tgctgccctctctctctctc 55 30 45 RM552 11 cgcagttgtggatttcagtg tgctcaacgtttgactgtcc 55 30 46 RM536 11 tctctcctcttgtttggctc acacaccaacacgaccacac 55 30 47 RM287 11 ttccctgttaagagagaaatc gtgtatttggtgaaagcaac 55 30 48 RM144 11 tgccctggcgcaaatttgatcc gctagaggagatcagatggtagtgcatg 57 30 49 RM19 12 caaaaacagagcagatgac ctcaagatggacgccaaga 55 30 50 RM277 12 cggtcaaatcatcacctgac caaggcttgcaagggaag 55 30 Đánh giá đa dạng di truyền một số giống lúa ngắn ngày 464 Kỹ thuật PCR đánh giá đa dạng di truyền sử dụng bộ chuẩn 50 chỉ thị SSR được tham khảo từ Chương trình khai thác đa dạng di truyền trong cải tiến giống cây trồng Generation Challenge Program, Consultative Group on International Agricultural Research - CGIAR. Các chỉ thị này được phân bố đều trên 12 nhiễm sắc thể McCouch, 2002 Bảng 2. Sản phẩm PCR được kiểm tra trên gel Agarose 4% và quan sát bằng đèn chiếu UV. Xây dựng sơ đồ đa dạng di truyền bằng phần mềm NTSYS sử dụng “Hệ số tương đồng Jaccard” và phương pháp UPGMA trong NTSYS Hệ số PIC Polymorphic Information content của mỗi locus SSR được tính theo công thức PIC i = 1 - Pij2 Botstein, 1980 . Trong đó, I là số locus SSR tương ứng; j là số thứ tự allen của locus SSR và Pij là tần suất allen thứ j với locus SSR thứ i. 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Kết quả đánh giá các giai đoạn sinh trưởng Động thái xuất hiện lá ở các giống thể hiện khá đa dạng, các mẫu giống ra lá thứ nhất sớm nhất là 5 ngày S13, S23 và 6 ngày S6, S11, S12. Tổng thời gian cho cây mạ xuất hiện 2 lá ngắn nhất ở mẫu giống S13 là 11 ngày; S15 và S23 là 12 ngày; dài nhất ở các mẫu giống S2, S9, S20, S21, S22, S24 là 19 ngày. Động thái xuất hiện lá ở giai đoạn mạ dài, ngắn có ở cả các mẫu giống có nguồn gốc Nhật Bản Japonica, IRRI và Việt Nam Indica. Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến lúc lúa trỗ bông, giai đoạn này kéo dài khoảng 27-35 ngày. Theo kết quả ở hình 1, thời gian từ gieo đến phân hóa đòng bước 4 có sự dao động tương đối lớn từ 60 tới 81 ngày, riêng dài ngày VN10 là 132 ngày. Như vậy, giai đoạn phân hóa đòng có sự dao động lớn nhất về thời gian sinh trưởng, các mẫu giống ngắn ngày bắt buộc phải sinh trưởng nhanh nhất vào thời điểm này. Nhóm có thời gian ngắn nhất 60-65 ngày S4, S18, S19 và S20. Giai đoạn trỗ bông bắt đầu khi các hoa đầu tiên của bông nhô ra đòng đến khi lóng trên cùng không dài ra được nữa. Độ dài giai đoạn này dao động 8 ngày giữa giống ngắn nhất, 13 ngày S8, S9 và S12, với giống dài nhất 22 ngày S20. Hình 1. Tổng hợp các giai đoạn sinh trưởng từ gieo đến trỗ của 24 mẫu giống nghiên cứu trong vụ xuân 2013 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam Nguyễn Quốc Trung, Lê Văn Trung, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Thùy Dương, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hoan, Phạm Văn Cường 465 Từ kết quả thể hiện ở hình 1, tổng độ dài, ngắn của thời gian sinh trưởng chủ yếu phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng. Giai đoạn phân hóa đòng và giai đoạn chín các mẫu giống không biến động nhiều. Tốc độ ra lá nhanh hay chậm cũng không đồng nghĩa với mẫu giống ngắn hay dài ngày. Trường hợp hai mẫu giống S18 và S19 có tốc độ ra lá 1 và lá 2 cũng nằm trong khoảng giá trị trung bình nhưng thời gian sinh trưởng sinh dưỡng rút ngắn đi rất nhiều nên tổng thời gian ngắn nhất trong các vật liệu nghiên cứu từ gieo tới trỗ tương ứng 74-76 ngày trong vụ Xuân. Kết quả phân tích đa dạng di truyền bằng chỉ thị SSR Trong 50 chỉ thị SSR được sử dụng có 19 chỉ thị xuất hiện vạch đơn hình; 31 chỉ thị xuất hiện vạch đa hình với tổng số 71 alen trong đó có 66 alen đa hình và 5 alen đơn hình ở OSR13, RM152, RM316, RM334, RM552. Chỉ thị RM474 có hệ số đa dạng cao nhất là 0,61 Bảng 3. Hình 2. Kết quả điện di sản phẩm PCR trên gel agarose 4% với một số SSR Ghi chú Từ trái qua phải S1->S28 và DNA ladder 100bp Kết quả phân tích khoảng cách di truyền bằng phương pháp UPGMA trong NTSYS thể hiện trong hình 3. Với độ tương đồng di truyền ở mức 0,78 có thể chia các mẫu giống thành 5 nhóm Nhóm 1 Gồm các mẫu giống Japonica Asominori, NorinPL9, IRRI142 và Agamimi. Nhóm 2 Mẫu giống IndicaMTL163 Nhóm 3 Gồm các giống Indica có nguồn gốc từ viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long và một số mẫu giống khác. Trong đó, 2 mẫu giống ngắn ngày nhất là P6ĐB và Kim23B có khoảng các di truyền khá gần nhau. Ở độ tương đồng 0,94 chưa thể phân biệt được 2 mẫu giống là Hoa sữa và OM6932. Nhóm 4 Các giống IndicaIR24 và 2 dòng CSSLs Chromosome segment substitution lines RufIL3 và RufIL19 có nền gen của IR24 mang một đoạn của nhiễm sắc thể số 1 và 5 tương ứng từ Oryza rufipogon do phòng thí nghiệm Chọn giống cây trồng, Đại học Kyushu phát triển. Nhóm 5 Nhóm các giống Indica đều được đánh giá có tiềm năng năng suất cao, tính thích nghi rộng như KD18, AD11, OM5524, IRRI108 và VN10. Trong đó quan hệ di truyền giữa KD18 và AD11 đã thể hiện rất rõ quá trình chọn tạo mẫu giống AD11 từ phép lai của KD18. So sánh sự phân nhóm trên với độ dài các giai đoạn sinh trưởng ở hình 1 nhận thấy 2 mẫu giống ngắn ngày nhất là P6ĐB và Kim23B đều nằm ở nhóm 3. Kết quả đánh giá đa dạng di truyền thể hiện rõ nguồn gốc các mẫu giống thuộc Japonica hay Indica, các mẫu giống có thời gian sinh trưởng ngắn có ở cả 2 nhóm Japonica Agamimi, Norin PL9 và Indica Kim23B, P6ĐB…. Vì vậy, chưa thấy được mối liên hệ rõ ràng giữa các phân nhóm theo chỉ thị SSR và theo thời gian sinh trưởng. Theo kết quả đánh giá trên, chúng tôi nhận thấy bộ 50 marker SSR sử dụng trong nghiên cứu đã đánh giá khá chính xác mối quan hệ di truyền giữa các mẫu giống nghiên cứu. Đánh giá đa dạng di truyền một số giống lúa ngắn ngày 466 Bảng 3. Hệ số đa dạng di truyền của các chỉ thị SSR và điều kiện PCR tương ứng TT Chỉ thị SSR NST Hệ số đa dạng TT Chỉ thị SSR NST Hệ số đa dạng Tổng số alen Số alen đa hình PIC* Tổng số alen Số alen đa hình PIC* 1 RM495 1 2 0 - 26 RM162 6 2 0 - 2 RM1 1 2 0 - 27 RM125 7 2 2 0,34 3 RM283 1 2 2 0,28 28 RM11 7 2 0 - 4 RM259 1 2 2 0,48 29 RM455 7 2 2 0,44 5 RM312 1 3 3 0,23 30 RM118 7 2 0 - 6 RM5 1 3 3 0,29 31 RM408 8 2 2 0,34 7 RM237 1 2 0 - 32 RM152 8 2 1 0,32 8 RM431 1 2 0 - 33 RM25 8 2 2 0,44 9 RM154 2 3 3 0,54 34 RM44 8 2 0 - 10 RM452 2 2 0 - 35 RM284 8 2 2 0,42 11 RM489 3 3 3 0,53 36 RM433 8 2 0 - 12 OSR13 3 2 1 0,5 37 RM447 8 2 2 0,48 13 RM338 3 2 0 - 38 RM316 9 2 1 0,36 14 RM55 3 2 0 - 39 RM105 9 3 3 0,49 15 RM514 3 3 3 0,53 40 RM215 9 2 2 0,14 16 RM307 4 2 0 - 41 RM474 10 3 3 0,61 17 RM124 4 2 0 - 42 RM271 10 2 0 - 18 RM507 5 2 0 - 43 RM171 10 2 2 0,28 19 RM413 5 3 3 0,53 44 RM484 10 2 0 - 20 RM161 5 2 2 0,28 45 RM552 11 2 1 0,24 21 RM178 5 2 0 - 46 RM536 11 2 2 0,22 22 RM334 5 2 1 0,42 47 RM287 11 3 3 0,56 23 RM133 6 2 0 - 48 RM144 11 2 2 0,22 24 RM510 6 2 2 0,50 49 RM19 12 2 2 0,42 25 RM454 6 2 2 0,28 50 RM277 12 2 2 0,38 Ghi chú * polymorphic information content Hình 3. Sơ đồ quan hệ di truyên 24 mẫu giống nghiên cứu xác định bằng chỉ thị SSR Nguyễn Quốc Trung, Lê Văn Trung, Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Thùy Dương, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hoan, Phạm Văn Cường 467 4. KẾT LUẬN Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng từ xuất hiện 2 lá đến phân hóa đòng quyết định tổng thời gian sinh trưởng của các mẫu giống lúa ngắn ngày. Mẫu giống lúa P6ĐB và Kim23B có thời gian sinh trưởng sinh dưỡng ngắn nhất 60-62 ngày. Sử dụng chỉ thị SSR đánh giá đa dạng di truyền đã thể hiện rất tốt sự tương đồng di truyền và phân biệt các mẫu giống nghiên cứu thành 2 nhóm chính Japonica và Indica, trong đó nhóm Indica được chia thành 4 nhóm nhỏ với hệ số di truyền 0,78. Hai mẫu giống ngắn ngày P6ĐB và Kim23B có quan hệ di truyền khá gần nhau ~ 0,86. LỜI CẢM ƠN Nhóm tác giả xin cảm ơn sự hỗ trợ thiết bị và vật liệu từ dự án Cải tiến mẫu giống cây trồng cho miền núi và trung du phía Bắc JICA-DCGV. TÀI LIỆU THAM KHẢO Botstein D, White RL, Skolnick M and Davis RW 1980. Construction of genetic linkage map in man using restriction fragment length polymorphisms. Am J Hum Genet 32 314-331. Doyle, and Doyle 1987. A rapid DNA isolationprocedure for small quantities of fresh leaf tissue. Phytochem Bull 19 11-15. IRRI 2002. Standard Evaluation of Rice. International Rice Rearch Institute, LosPanos, Philippines. McCouch S. R., L. Teytelman, Y. Xu, K. B. Lobos, K. Clare, et. al. 2002. Developmentof 2240 new SSR markers for rice Oryza sativa L.. DNA research, 9 6 199 - 207. Monaco Stein J., Naithani S., Wei S., Dharmawardhana P., Kumari S., Amarasinghe V., Youens-Clark K, Thomason J, Preece J, Pasternak S, Olson A, Jiao Y, Lu Z, Bolser D, Kerhornou A, Staines D, Walts B, Wu G, D'Eustachio P, Haw R, Croft D, Kersey PJ, Stein L, Jaiswal P, Ware D 2013. Gramene 2013 comparative plant genomics resources. Nucleic Acids Res. PMID 24217918. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this Evaluation of Rice. International Rice Rearch InstituteIrriIRRI 2002. Standard Evaluation of Rice. International Rice Rearch Institute, LosPanos, 2240 new SSR markers for riceS R MccouchL TeytelmanY XuK B LobosK ClareMcCouch S. R., L. Teytelman, Y. Xu, K. B. Lobos, K. Clare, et. al. 2002. Developmentof 2240 new SSR markers for rice Oryza sativa L.. DNA research, 9 6 199 2013 comparative plant genomics resourcesM K MonacoJ SteinS NaithaniS WeiP DharmawardhanaS KumariV AmarasingheK Youens-ClarkJ ThomasonJ PreeceS PasternakA OlsonY JiaoZ LuD BolserA KerhornouD StainesB WaltsG WuD 'eustachioP HawR CroftD KerseyP J SteinL JaiswalP WareMonaco Stein J., Naithani S., Wei S., Dharmawardhana P., Kumari S., Amarasinghe V., Youens-Clark K, Thomason J, Preece J, Pasternak S, Olson A, Jiao Y, Lu Z, Bolser D, Kerhornou A, Staines D, Walts B, Wu G, D'Eustachio P, Haw R, Croft D, Kersey PJ, Stein L, Jaiswal P, Ware D 2013. Gramene 2013 comparative plant genomics resources. Nucleic Acids Res. PMID 24217918. Quẩn quanh bao năm không buông mặt hồThuyền anh đi xa bờ thì em vẫn dõi chờDuyên mình dịu êm thơ rất thơVà anh nâng niu em như đóa hoaCòn em xem anh như trăng ngọc ngàTự do như mây vàng mình phiêu du non ngànDẫu trần gian bao la đến đâu nơi anh là nhàKhi anh qua thung lũngVà bóng đêm ghì bàn chânĐời khiến anh chẳng còn nhiều luyến lưu, em mong lau mắt anh khôTa yêu sai hay đúng?Còn thấy đau là còn thươngKhi bão qua rồi biết đâu sẽ đi tới nơi của ngày đầuHết muộn sầuLạc bước giữa những đam mê tăm tốiLiệu máu vẫn nóng nơi tim bồi hồi?Người năm xưa đâu rồi?Lạnh băng tiếng khóc cườiAnh ở nơi xa xôi vô lốiMặt đất níu giữ đôi chân chúng taThì bay lên trong cơn mơ kỳ lạỞ đó anh vẫn là người yêu thương chan hòaDẫu trần gian cho anh đắng cay nơi em là nhàKhi anh qua thung lũngVà bóng đêm ghì bàn chânĐời khiến anh chẳng còn nhiều luyến lưu, em mong lau mắt anh khôTa yêu sai hay đúng?Còn thấy đau là còn thươngKhi bão qua rồi biết đâu sẽ đi tới nơi của ngày đầuHết muộn sầuKhi anh qua thung lũngVà bóng đêm ghì bàn chânĐời khiến anh chẳng còn nhiều luyến lưu, em mong lau mắt anh khôTa yêu sai hay đúng?Còn thấy đau là còn thươngKhi bão qua rồi biết đâu sẽ đi tới nơi của ngày đầuHết muộn sầu

giong lua ngan ngay